LỊCH SỬ
MỸ THUẬT VIỆT NAM
-----------------------------
Phần 1:
tìm hiểu nghệ thuật tạo hình thời tiền sử và các đời vua Hùng.
Phần 2:
thời kỳ Bắc thuộc.
Phần 3:
thời độc lập tự chủ trong chế độ phong kiến.
Phần 4:
mỹ thuật thời kỳ Pháp thuộc.
Phần 5:
mỹ thuật sau khi dành độc lập, đấu tranh thống nhất đất nước và
hiện
nay.
Phần 6:
một số nền nghệ thuật các dân tộc ít người.
Phần
cuối: kết luận.
PHẦN I
NGHỆ
THUẬT TẠO HÌNH THỜI TIỀN SỬ VÀ THỜI CÁC VUA HÙNG
Nghệ
thuật tạo hình nước ta trong thời kì nguyên thủy không có nhiều,
nhất là
trong thời kỳ đồ đá cũ. Những di chỉ còn lại ở núi Đọ, Trung Đội, Yên
Lương
không có giá trị gì nhiều về mặt mỹ thuật.
Vào thời
kỳ đồ đá giữa và đồ đá mới, công cụ đã bắt đầu có tính chuyên
môn hơn,
và bắt đầu thể hiện sự ý thức về mỹ thuật.như văn hóa Hòa Bình, văn
hóa Bắc
Sơn. Có những công cụ tiếp tục phát triển hình thức tới thời đại đồ
đồng (
như lưỡi rìu có vai, lưỡi rìu xéo). Có những hình dáng vò, vại, chum, nồi
đã được
tạo hình hợp lý và tồn tại tới ngày nay không thay đổi gì lớn. Cách đan
khuôn
trước, trát đất rồi đem nung để làm đồ gốm tạo một gợi ý về những hoa
văn
trang trí sau này. Cuối thời đồ đá mới hoa văn trang trí đã phong phú, làm
nền tảng
cho trang trí về sau.
Khoảng
3.000 năm trước công nguyên, nhà nước Văn Lang ra đời từ sự
thống
nhất của những bộ tộc bản địa và những bộ tộc người Việt di chuyển từ
phương
Bắc xuống. Đây là được gọi là thời đại các vua Hùng, thời kỳ dựng
nước.
Cách gọi này để chỉ giai đoạn lịch sử có các nền văn hóa từ văn hóa
Phùng
Nguyên(hậu kỳ đồ đá mới), Đồng Đậu, Gò Mun đến nền văn hóa Đông
Sơn,
thời đại đồng thau, mà trong thời kì này, nổi bật lên là sự kiện Hùng vương
tạo dựng
nước Au Lạc, đoàn kết các bộ tộc thành những người “ đồng bào” như
sự tích
trăm trứng biểu hiện.
Giai
đoạn Phùng Nguyên.
Trong
thời gian này dân tộc ta đã biết sử dụng đồng luyện kim làm công
cụ như
dấu vết ở Thượng Nung (Gò Bông) chứng tỏ. Đồ gốm và đồ đá mài đã
trở nên
tinh vi và độc đáo, chứng tỏ tính “ Bản địa” của nền văn hóa này. Những
công cụ
được chế khéo léo hơn, nhất là những đồ trang sức đã trở nên rất thanh
nhã,
chứng tỏ trình độ điêu luyện, óc thẩm mỹ của dân ta trong thời kỳ này. Đồ
gốm với
nhiều hoa văn phong phú sẽ là nền tảng cho sự phát triển liên tục đến
thời
Đông Sơn. Luật lặp lại, đối xứng và xen kẽ đã xuất hiện trong các hoa văn
thời kì
này.
Những di
vật này chứng minh nguồn gốc dân tộc của nền văn hóa nước
ta.
Giai
đoạn Đồng Đậu
Đồng
thau đã được phát hiện lần đầu tiên trong giai đoạn này. Tuy vậy,
hiện vật
chủ yếu được tìm thấy là đồ đá tinh xảo và đồ gốm với nhiệt độ nung
cao hơn,
do vậy, nhiều màu sắc phong phú hơn. Loại hoa văn “khuôn nhạc” (có
lẽ dùng
một dụng cụ hình răng lược ấn vào vật dụng chưa nung) tạo nên sự
đặc sắc,
khác biệt với thời Phùng Nguyên. Ơ Đồng Đền, Từ Sơn, hiện vật tìm
thấy
nhiều chủng loại dụng cụ đồng thau có hình dáng rất hợp lý.
Giai
đoạn Gò Mun
Kỹ thuật
đúc đồng đã trở nên phổ biến với trình độ cao. Đồ gốm có nhiệt
độ nung
cao hơn nên rắn chắc hơn.
Điểm đặc
biệt là thị hiếu thẩm mỹ của con người của giai đoạn Gò Mun.
Những
hoa văn trang trí trở nên đơn giản hơn với tính trừu tượng cao hơn,
chứng tỏ
khả năng khái quát hóa cao hơn trong thị hiếu thẩm mỹ của thời đại này.
Chúng sẽ được phát triển cao hơn ở giai đoạn Đông Sơn. Có thể nói Đồng
Đậu là
giai đoạn nền tảng cho sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đông Sơn.
Giai
đoạn Đông Sơn
Đây là
giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật dân tộc trong thời
kỳ dựng
nước, đến nỗi nhiều học giả nước ngoài, với tính kỳ thị dân tộc, đã cho
rằng
những hiện vật của thời kỳ này thuộc một nền văn hóa ngoại lai. Sau khi
phát
hiện các giai đoạn phát triển liên tục, có qui luật từ văn hóa Phùng Nguyên,
trải dài
qua văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun, chúng ta đã có bằng chứng không thể
chối cãi
về nguồn gốc dân tộc của nền văn hóa này. Chỉ đến cuối giai đoạn
này, một
số yếu tố ngoại lai như những đường nét cách điệu cao, mất tính hiện
thực mới
xuất hiện.
Đồ đá
đến giai đoạn này chủ yếu chỉ đóng vai trò làm trang sức. Đồ gốm
cũng
không tinh xảo như trong những giai đoạn trước. Tất cả tinh hoa nghệ
thuật
của dân tộc ta dường như dồn hết cho những chế tác bằng đồng thau,
biến
chúng thành những sản phẩm tuyệt vời, mang lại vinh dự cho nền nghệ
thuật
dân tộc.
Những
công cụ sản xuất nông nghiệp trở nên nhiều kiểu dáng, có lẽ để
thích
hợp với nhiều vùng đất khác nhau như các loại lưỡi cày, mai, lưỡi hái…
Công cụ
thủ công cũng trở nên tinh xảo hơn.
Nhưng có
lẽ đáng lưu ý nhất là các loại vũ khí bằng đồng, chứng tỏ mối
quan tâm
của dân tộc ta vào thời kỳ dựng nước. Nhiều loại vũ khí trở nên một
tác phẩm
nghệ thuật, mang đầy sắc thái dân tộc với sự độc đáo của nó. Nhất là
loại rìu
lưỡi xéo mà hình dáng đã xuất hiện từ giai đoạn Phùng Nguyên, đến nay
đã trở
nên hoàn thiện. Chúng được trang trí bằng những họa tiết đẹp, hình dáng
cân
xứng, tiện lợi. Ngoài ra các cán dao găm cũng được trang trí bằng những
hình
tượng người, động vật, có thể làm tư liệu cho chúng ta ngày nay về cách
trang
phục của người xưa và thị hiếu thẩm mỹ của họ. Số lượng lớn những mũi
tên, mũi
lao đồng ở Cổ Loa cũng minh chứng cho truyền thuyết nỏ thần của An
Dương
Vương là dựa trên sựthật.
Đồ trang
sức bằng đồng thời Đông Sơn là sự phát triển kiểu dáng của
trang
sức bằng đá của những thời kỳ trước. Loại hình mới mẻ là những tượng
nhỏ bằng
đồng như người cõng nhau, người quì dưới chân đèn, … hình những
con thú
gần gũi với đời sống con người.
Trống
đồng là hiện vật được tìm thấy nhiều ở nước ta. Đẹp nhất là những
trống
đồng Ngọc Lũ, Khai Hóa, Hoàng Hạ, sông Đà. Hình dáng chung của trống
đồng
Đông Sơn giống như nồi gốm thời Gò Mun, và khá giống với nồi đồng hiện
nay úp
ngược lại. Phải chăng trống đồng ra đời do sự gợi ý của cái nồi bởi sự
cộng
hưởng âm thanh của nó? Những họa tiết trên trống thể hiện thế giới quan
của người
xưa, với những cảnh sinh họat, đám rước, những loại chim mà chúng
ta coi
như vật tổ của ông cha. Gần đây có những giả thiết cho rằng những vòng
tròn
trên trống thể hiện bộ lịch cổ theo mặt trời của dân tộc ta. Trống đồng thời
Đông Sơn
còn được phát triển đến mãi sau này tới thời Trần vẫn còn được nhắc
đến như
một nhạc cụ dùng trong lễ hội và trận mạc.
Những
họa tiết trên trống đồng còn giúp chúng ta hiểu được phần nào
trang
phục, kiến trúc của người xưa. Nhà
sàn với dáng mái hình mui thuyền rất
phổ biến
ở vùng Đông Nam Á, những đầu nóc uốn cong hình như tả những vật
tổ mà
hiện nay vẫn còn thấy ở mái nhà các dân tộc thiểu số. Có người cho rằng
loại mái
này do chiếc thuyền hoặc chiếc thuyền lật úp, phương tiện vận chuyển
chủ yếu
của cư dân vùng Đông Nam Á gợi ý.
Nhưng kiến trúc quan trọng nhất vẫn tồn tại
tới ngày nay là thành Cổ Loa.
Đây là
một kiến trúc hết sức độc đáo với sự
kết hợp tài tình của nó với địa hình
thiên
nhiên, tạo nên một công trình quân sự rất hiệu quả. Cổ Loa cùng với nỏ
liên
châu của Cao Lỗ trở nên hai lợi khí quan trọng trong việc bảo vệ đất nước,
và được
thần thánh hóa trong huyền thoại An Dương Vuơng.
Phần II
THỜI KỲ
BẮC THUỘC
Triệu Đà
dùng mưu cướp nước ta, mở ra một thời kỳ dài gần 10 thế kỷ
dân ta
sống dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Một thời gian quá dài
đủ để
nhiều dân tộc bị đồng hóa hoàn toàn. Nhưng ngược lại, dân tộc ta vẫn
không
ngừng phản kháng, vùng lên dành độc lập, bảo vệ nền văn hóa của tổ
tiên.
“Đánh cho dài tóc, đen răng…” là một trong những mục tiêu của các cuộc
khởi
nghĩa. Cuộc chiến đấu để dành lại tổ quốc, bảo vệ bản sắc dân tộc ấy là
cuộc
chiến đấu không cân sức, nhưng với nền văn hóa sâu sắc, hình thành theo
chiều
dài lịch sử, ông cha ta đã chiến thắng, dù biết bao thế hệ phải trải qua
bao hy
sinh lớn lao. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, không những ông cha không
đánh mất
bản sắc dân tộc mà còn tiếp thu những tinh hoa văn hóa của chính kẻ
thù, làm
giàu cho bản sắc dân tộc.
Tất
nhiên với sự thống trị của phong kiến phương Bắc, văn hóa Việt Nam
không
thể phát triển được. Đây có lẽ là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Việt
Nam, kể
cả về chính trị cũng như sự phát triển văn hóa.
Những kiến trúc của dân tộc ta thời kì này
không có gì đáng kể trừ những
kiến trúc quân sự như thành Hạ
Lôi, thành Vạn An, thành Rền, thành Đại La…
bởi vì kiến trúc dân sự không thể có những
công trình đồ sộ, có giá trị do sự qui
định, áp
đặt từ bọn thống trị phương Bắc.
Trong
khi đó, những sản phẩm mỹ thuật tuy không còn nhiều do thời
gian, sự
tàn phá vơ vét của phong kiến phương Bắc… cũng phần nào nói lên
khả năng
sáng tạo, khiếu thẩm mỹ của nhân dân ta thời đó. Những tháp Bát
Vận, những
đồ tùy táng theo phong cách Đông Sơn, những đồ mỹ nghệ tinh
xảo,
sành tráng men, … đặc biệt là nghề khảm xà cừ thể hiện trình độ mỹ thuật
của nghệ
nhân nước ta. Rất nhiều sản vật bị cống nạp sang Trung Quốc, một
nước nổi
tiếng có nền mỹ thuật tinh xảo.
Nhìn
chung lại thời kỳ dài này tuy rất nhiều biến động về chính trị, dài về
thời
gian nhưng không để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử mỹ thuật nước nhà,
ngoài
việc tiếp thu một cách chọn lọc những tinh hoa mỹ thuật Trung Quốc.
Phần
III:
THỜI KỲ
ĐỘC LẬP TỰ CHỦ TRONG CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
Ta có
thể tạm chia thời kì này làm 3 giai đoạn: giai đoạn đầu từ khi Ngô
Quyền
dành lại độc lập từ Nam Hán đến khi kết thúc thời Tiền Lê; giai đoạn hai
từ nhà
Lý đến cuối thời nhà Hậu Lê; giai đoạn thứ 3 từ thời nhà Nguyễn. Ba giai
đoạn này
cũng trùng khớp với sự hưng vong của chế độ phong kiến nước ta với
sự hình
thành, phát triển và suy tàn của nó.
Giai
đoạn đầu
Như đã
nói ở trên, giai đoạn này bắt đầu từ khi Ngô Quyền chiến thắng
quân Nam
Hán trên sông Bạch Đằng, mở đầu một giai đoạn bền vững, lâu dài
hàng
nghìn năm của sự phát triển của dân tộc. Với tinh thần tự hào dân tộc,
những
giá trị văn hóa Việt Nam bắt đầu được khôi phục, tạo điều kiện cho
những
giai đoạn phát triển sau nay.
Tuy vậy,
với thời gian ở ngôi không lâu, ảnh hưởng của nghệ thuật
phương
Bắc còn nhiều, triều đại của Ngô Quyền chưa làm được gì nhiều cho
nền nghệ
thuật dân tộc.
Sau đó,
loạn 12 sứ quân chỉ để lại những di tích manh mún của một vài
công
trình quân sự. Đinh Tiên Hoàng đã bước đầu xây dựng kinh đô ở Hoa Lư,
từ đó,
cùng với sự ổn định về chính trị của chính quyền phong kiến, nghệ thuật
mới có
điều kiện định hình.
Chỉ đến
khi vua Lê Đại Hành lên ngôi, cùng với thời gian, nền nghệ thuật
dân tộc
mới phục hồi, cộng thêm ảnh hưởng mới lạ của nghệ thuật Chăm Pa do
những
cuộc chinh phục của Vua về phương Nam đem lại, nền văn hóa Việt
Nam mới
có những bước tiến đáng kể.
Ngày nay
chúng ta còn biết đến những dấu tích của những tòa thành nhỏ
của thời
12 sứ quân như thành Quèn, Hồ Đỗ, Bạch Hạc, Độc Nhĩ… nhưng
chúng
không thể so sánh với công trình thành Hoa Lư, kinh đô của 2 triều vua
Đinh Bộ
Lĩnh và Lê Đại Hành. Thành này mang một đặc điểm quan trọng của
các tòa
thành Việt Nam có từ thời xây thành Cổ Loa là không vuông vức khống
chế
không gian như những tòa thành phương Bắc, mà luôn dựa vào địa thế núi
non để dễ
phòng thủ, tấn công, vừa đỡ tốn công xây đắp. Thậm chí ở tòa thành
này,
thành nội không nằm trong thành ngoại như quy ước thường thấy mà nằm
bên
cạnh, thông qua quèn (truông, hẻm núi) Võng, tạo nên thế “ ỷ dốc”, hỗ trợ
lẫn
nhau. Bên cạnh những viên gạch tận dụng ở Luy Lâu, Tống Bình, ta có thể
thấy
những loại gạch chuyên dụng để xây thành. Đá được dùng nhiều để xây
nền móng
cho những công trình ở đây. Điều đó chứng tỏ tính chuyên nghiệp, ý
thức xây
dựng cơ đồ bền vững của hai Vua.
Tuy
không còn chứng tích cụ thể, nhưng dựa trên sử cũ, ta được biết
cung
điện Hoa Lư là to lớn và nguy nga với các điện Bảo Thiên Tuế, điện Phong
Lưu, Từ
Hoa, Bồng Lai, Cực Lạc, với một số cột dát vàng , bạc, mái bằng ngói
bạc. Một
số di tích cho thấy ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm Pa với kiến trúc
và điêu
khắc. Đặc biệt hơn cả, di tích còn lại của chùa Nhất Trụ có thể là tiền
thân cho
chùa Một Cột thời Lý ở Thăng Long, một công trình Phật giáo độc đáo
của Việt
Nam.
Nghệ
thuật tạo hình cũng chịu số phận như những công trình kiến trúc,
đến nay
không còn gì nhiều. Nhưng những gì còn sót lại cho ta thấy nghệ nhân
thời đó
đã biết sáng tạo những những hoa văn trang trí hướng tâm, những loại
họa tiết
đan xen tạo thế vững vàng về bố cục mà vẫn thoải mái bay bướm,
chứng tỏ
tay nghề, trình độ mỹ thuật khá cao. Một số di vật ở Hà Nội thời nhà
Lý vẫn
còn mang dấu ấn của thời kỳ này, cùng với kiếntrúc chùa Một Cột cho ta
thấy sự
sự phát triển của nghệ thuật dân tộc ta luôn theo một dòng chảy thống
nhất,
trên cơ sở một nền văn hóa có bản lĩnh, có thể có tiếp thu văn hoá bên
ngoài,
nhưng không vì thế mà làm lu mờ bản sắc dân tộc, nhất là khi có nền độc
lập tự
chủ, với ý thức tự cường của nhân dân ta.
Giai
đoạn thứ 2: Lý - Trần - Hồ - Lê
Trong
giai đoạn này, ta thấy một sự phát triển rực rỡ nhất, thời hoàng kim
của nền
nghệ thuật dân tộc, đồng thời là những mầm mống của sự suy tàn của
nó, khi
mà chế độ phong kiến bộc lộ sự lỗi thời phản động của nó. Có thể nói
giai
đoạn lịch sử này thể hiện hết sự thịnh vong của cả một chế độ chính trị, tồn
tại suốt
chiều dài của cả 1 thiên niên kỷ, đồng thời nó cũng cho chúng ta thấy
nghệ
thuật luôn luôn gắn liền số phận của nó với chính trị, gắn liền với sự tồn
vong của
dân tộc
Lý -
Trần – Hồ, 3 triều đại nối tiếp nhau là thời kỳ hoàng kim của nền
nghệ
thuật Việt Nam, trong đó nghệ thuật tạo hình. Đây là những triều đại tiếp
thu di
sản của những thời kì trước, nền kinh tế được phát triển trên cơ sở một
chế độ
chính trị thích hợp với trình độ của thời kỳ đó.
Điểm đặc
biệt của thời kỳ này là sự bùng nổ của đạo Phật. Bản thân vua
Lý Công
Uẩn là một đệ tử nhà Phật, nhiều vua Trần cũng xuất gia sau khi thực
hiện vai
trò lãnh đạo đất nước. Nhiều nhà sư nắm giữ những vị trí quan trọng
trong
chính quyền như Lý quốc sư, Khuôn Việt đại sư…. Đặc điểm xã hội này
dẫn tới
việc xây dựng chùa chiền ở nước ta rở rộ. Trương Hán Siêu đã nói: “…
nửa nước
ta đã là chùa…”. Việc xây dựng tất nhiên sử dụng khối lượng nhân
công
khổng lồ, và chắc chắn đã có những công trình rất to đẹp. Tuy nhiên với
sự hủy
hoại một cách có hệ thống nhằm tiêu diệt văn hóa Việt Nam của nhà
Minh,
hầu như chúng ta chẳng còn những di vật có giá trị nào chứng minh cho
sự phát
triển kiến trúc của chúng ta, ngoài
một vài di tích chắc chắn là không
quan
trọng, không đại diện cho nền mỹ thuật nước ta thời đó. Đây là một mất
mát to
lớn cho kho tàng nghệ thuật nước nhà. Cùng với sự hủy hoại đồ đồng
thời Mã
Viện, sự tàn phá của cuộc chiến tranh Nguyên Mông, 20 năm tiêu diệt
không
thương tiếc nền văn hóa Việt Nam của nhà Minh, sau này, giặc Pháp góp
phần làm
nốt những gì mà các chế độ phong kiến phương Bắc còn để sót lại.
Qua đó
chúng ta có thể thấy một nền văn hóa không thể tồn tại, phát triển
mạnh mẽ
nếu không có một nền độc lập dân tộc, một chế độ chính trị phù hợp
với sự
phát triển của dân tộc.
Tuy vậy,
những gì còn sót lại cũng đủ chứng minh cho sự phát triển rực
rỡ của
nền nghệ thuật nước nhà trong giai đoạn này.
Vua Lý
Thái Tổ dời đô về Thăng Long. Kinh đô được xây dựng lại nguy
nga với
tính chất một kinh đô của một thời thái bình thịnh trị. Nó khác hẳn với
kiến trúc thành Hoa Lư, nơi mà
tính chất quân sự còn được đưa lên hàng đầu.
Thành
nội với trung tâm là điện Càn Nguyên, các điện Tập Hiền, Giảng Vũ, điện
Long An,
Long Thụy, điện Cao Minh, Nhật quang, Nguyệt Minh vây quanh cùng
các cung
Nghênh Xuân, Thúy Hoa, Long Thụy. Thành ngoại là 36 phố phường,
nơi tập
trung những phường hội, chợ búa, chùa chiền, hành cung của Vua, dinh
thự của
quan lại, nhà ở của phú thương… sông Tô Lịch và Kim Ngưu chảy
quanh
vừa là tuyến giao thông vừa là hào thiên nhiên bao quanh bảo vệ kinh
thành.
Tuy vậy,
vì những lí do đã nói trên, thêm nữa, đặc điểm kiến trúc của
chúng ta
phần nhiều làm từ gỗ, chất liệu rất sẵn có với một xứ nhiệt đới, nhưng
dễ bị
hủy hoại bởi hỏa hoạn, bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm thấp, mối mọt,
… hiện
nay chúng ta gần như không thấy một chứng tích gì của lịch sử kiến trúc cung
điện thành quách thời kỳ này, trừ một ít di tích thành nhà Hồ còn sót lại.
Những di
tích đó gợi cho chúng ta thấy sự đồ sộ của tòa thành, khâm phục khả
năng kiến trúc hợp lý, công tác tổ chức,
tính toán cho công trình, nhất là khi ta
được
biết toàn bộ kỳ công này hoàn thành trong 3 tháng.
Những di
tích còn sót lại phần nhiều là những công trình Phật giáo hoặc
có lẽ do
số lượng nhiều giặc không phá xuể, hoặc không phải là mục tiêu phá
hoại
triệt để của chúng, hơn nữa là nơi thờ phượng, nơi biểu dương tín ngưỡng
của nhân
dân nên được bảo vệ, tu sửa thường xuyên.
Phật
giáo thời này ngoài việc là nơi thờ Phật, tu hành, còn là nơi giáo dục
thẩm mỹ
cho nhân dân thông qua việc tổ chức hội lễ, việc cùng với thợ chuyên
nghiệp
xây dựng chùa… vì vậy có thể nói đạo Phật ngoài việc tuyên truyền tín
ngưỡng
của mình còn có tác dụng phát triển mỹ thuật.
Do kiến trúc chủ yếu bằng gỗ, những họa
tiết được tập trung ở dàn
khung
nhà (câu đầu, thượng lương, xà nách…) , cửa võng, những bức tường cơ
động
theo kiểu ván long, lá gió.
chùa
Việt Nam cũng thường hòa hợp với thiên nhiên, làm đẹp thêm thắng cảnh.
Lịch sử
sách vở còn ghi lại những danh thắng như vậy như chùa Thắng Nghiêm,
Diên
Hựu, Báo Thiên, Phật Tích, Quang Nghiêm, Siêu Loại… chúng đều là
những
tác phẩm nghệ thuật với sự hài hòa cùng khung cảnh và sự trang trí lộng
lẫy phía
bên trong. Nó đã là nơi qui tụ của khách thập phương viếng cảnh, là nơi
tập
trung dân chúng trong những dịp lễ hội, góp phần tạo nên nét đặc sắc trong
phong
cách sống của người Việt Nam.
Trong
những chùa nổi tiếng, chúng ta có thể kể đến chùa Một Cột với lối
kiến trúc độc đáo, vừa thể hiện
hết nội dung, vừa mang một sắc thái thơ mộng.
Nó có
thể đựoc gợi ý từ cấu trúc của chùa Nhất Trụ thời Lê Đại Hành, ngoài ra
kiểu
dáng này còn có thể được thấy ở cột đá còn di tích ở chùa Giạm.
Chùa
Phật Tích có lẽ cũng là chùa lớn ở nước ta vì từ Thăng Long người
ta có
thể thấy được nó nằm trên triền núi Tiên Sơn. Ngày nay, nhìn lại nền chùa,
ta cũng
cảm nhận được kích thước to lớn của nó.
Chùa Bút
Tháp hiện nay vẫn còn ở Thuận Thành (Hà Bắc). Tuy vậy, nó
không
còn nguyên kiến trúc cũ vì đã được
trùng tu, ảnh hưởng theo phong cách
Trung
Quốc. Điều này cũng thường thấy ở các chùa còn nguyên vẹn ngày nay.
Có lẽ
chỉ có những bảo tháp là còn mang nhiều phong cáchnguyên thủy của nó
do được
xây dựng bằng gạch đá, tồn tại lâu hơn với thời gian.
Nhiều
tháp đã được ca ngợi trong sử sách như tháp Báo Thiên, Tường
Long,
tháp chùa Vạn Phúc, tháp Cảnh Long Đồng Khánh, Chương Sơn, Bình
Sơn,
tháp chùa Đọi, … những tháp còn lại ngày nay, tuy không phải là những
tháp
được coi là to đẹp thời đó như tháp Bình Sơn, tháp Phổ Minh, tháp Chương
Sơn,
cũng đủ cho người đời nay thấy tự hào về kiến
trúc mỹ thuật của ông cha.
Tượng
được trình bày trong đình chùa rất đa dạng do tập quán tính
ngưỡng
của nhân dân ta. Cùng với tinh thần “Tam giáo đồng quy “, nhân dân ta
còn theo
tín ngưỡng Đạo Mẫu, vì vậy, tượng trong chùa không chỉ có tượng
Phật,
tượng chư Tổ, mà nhiều khi có cả Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân,
Khổng
Tử, những người có công với địa phương, với tổ quốc… Nhưng những
tượng
Phật, những đại diện cho đạo Nho và Lão thường theo khuôn mẫu, qui phạm nên
không có nhiều tượng đặc sắc. Những tượng chân dung cũng không
cho
chúng ta nhiều cảm xúc chân thật hơn. Chỉ có những tượng La Hán, Tôn
Giả, Kim
Cương, Thiên Vương còn tương đối ít gò bó. Tuy vậy một số tượng
còn lại
cho chúng ta thấy với sự gò bó của quy tắc không giết chết nổi cảm
hứng
nghệ sỹ với những nếp áo tôn thân hình thon thả của Phật A Di Đà ở chùa
Phật
Tích.
Điêu
khắc trang trí có một đặc điểm là họa tiết thay đổi theo từng triều
đại khá
rõ ràng, đến mức chúng ta có thể chỉ ra thời đại tương đối của chúng.
Thời Lý
Trần thường khắc người, quái vật Ga ru đa, chim thần Kin na ry, Ca la
tăng đa
với nét mặt, dáng điệu Việt Nam, mà chúng ít xuất hiện hơn ở thời hậu
Lê và
Nguyễn. Đặc điểm của điêu khắc thời Lý Trần là xuất phát từ vốn cổ từ
thời
Đông Sơn phần nào ảnh hưởng bởi nghệ thuật Chăm Pa, cộng với sự sáng
tạo
những họa tiết mới, đặc sắc, tạo thành một phong cách độc đáo. Đặc biệt
là con
rồng “giun” thời Lý mang nhiều vẻ của con rắn dài, đầu vẫn còn vết tích
của cá
sấu (như ở thời Đông Sơn) nên không có sừng. Nhìn hình dạng của nó,
người ta
thấy sự mềm mại, thân thuộc, chứ không hùng hổ, bộc lộ uy quyền
như
những con rồng thời Nguyễn, khi con rồng bị ảnh hưởng của con rồng
Trung
Quốc. Người thời Trần, có lẽ với gốc gác dân chài, với lòng tự hào với
những
chiến công oanh liệt đã tạo nên cho con rồng thời này mạnh khỏe hơn,
với cái
đầu to hơn, râu tóc rõ hơn, vảy nổi rõ hơn và đôi khi thấy có vây trên
lưng.
Những
tượng thú khác (rồng, hổ, voi ngựa, sóc…) còn khá nhiều ở chùa
Phổ
Minh, Thiên Phúc, Phật Tích… Chúng mang nhiều “tính điêu khắc” (cảm
giác về
khối, về sự chuyển động của khối thể hiện trong động tác) hơn những
tượng
của thời đại sau.
Chạm trổ
ở chân cột, đầu kèo, thành bậc thang… được các nghệ nhân
đặt tâm
huyết vào nhiều hơn cả. Chỉ với chân cột chùa Phật Tích, một bộ
phận
phải làm hàng loạt, không chính yếu mà cũng được chạm trổ tinh vi,
trở
thành những bức phù điêu hoàn chỉnh. Những bức chạm lộng Tiên tấu
nhạc,
Tiên dâng hoa ở chùa Thái Lạc mang đầy chất trang trí và chất thơ.
Những
con rồng ở 4 cánh cửa chùa Phổ Minh cũng là những tác phẩm đẹp.
Những
tác phẩm hội họa, nay không còn, chỉ thấy ghi trong sử sách.
Nhưng có
lẽ điểm đáng khâm phục nhất là đồ sành, gốm. Đây là những
vật phẩm
tồn tại đến ngày nay nhiều nhất do sự bền chắc của chất liệu, nhất là
gốm sứ
đời Lý. Nhiều người đánh giá đồ sứ giai đoạn này thuộc loại đẹp nhất
trong
thời phong kiến nước ta. Khu vực tìm thấy đồ sành thời này nhiều nhất là
vùng Hà
Nội, Vĩnh Phú, Hà Tây. Tại Thanh Hóa, ta lại tìm thấy được nhiều đồ
sứ có
chất men rất trong (tuy nhiên vẫn chưa thực rõ xuất xứ). Những đồ gốm
thời
Trần mang dáng vẻ mộc mạc, họa tiết quen thuộc của nông dân.
Tóm lại,
những triều đại Lý Trần Hồ đã xây dựng nền tảng vững chắc cho
nghệ
thuật dân tộc với những tác phẩm đẹp, làm nền móng cho cá nghệ sỹ hậu
Lê sau
này.
THỜI KỲ
PHÁP THUỘC
Đây là
một thời kỳ xáo trộn, nhiều mâu thuẫn nhất trong lĩnh vực mỹ
thuật
nước nhà. Một mặt với chính sách thực dân bóc lột, bọn Pháp chỉ muốn
vơ vét,
không muốn nghệ thuật Việt Nam phát triển, vì vậy chúng thi hành chính
sách ngu
dân triệt để. Nhưng mặt khác, với chế độ tư sản, để bóc lột nhiều hơn
thặng
dư, việc đào tạo người Việt làm công, làm tay sai lại là việc làm bắt buộc.
Thông
thương là điều kiện tất yếu của chủ nghĩa tư bản, nên việc nhìn ra bên
ngoài,
học hỏi tinh hoa các dân tộc trên thế giới trở nên dễ dàng hơn.Tư tưởng
tư sản
tuy không tiến bộ, nhưng trình độ kinh tế lại cao hơn so với chủ nghĩa
phong
kiến vốn tồn tại lâu đời ở nước ta và đã đi đến chỗ phản động. Chủ nghĩa
cá nhân
tách rời con người ra khỏi cộng đồng, lại đem lại sự tự do tương đối
trong
sáng tác, hình thành một thế hệ nghệ sỹ. Sự áp bức bóc lột về kinh tế,
trấn áp
tư tưởng, chính sách ngu dân lại làm nung nấu sự căm thù thực dân
phong
kiến. Và cũng như mọi thời đại, niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước vẫn
âm ỷ
trong tầng lớp nghệ sỹ này.
Vì vậy,
trong nghệ thuật có nhiều điểm rất đặc biệt. Nghệ thuật tuy học
hỏi được
nhiều phương pháp sáng tác mới nhưng nghệ sỹ lại tách biệt với đông
đảo nhân
dân. Tuy vậy, với làn gió mới tiếp thu từ nghệ thuật thế giới, những
nghệ sĩ
chân chính vẫn có những đóng góp đáng kể cho nghệ thuật Việt Nam.
Trường
cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời tuy nằm ngoài mưu đồ của Pháp
vẫn đào
tạo được các nghệ sỹ có tên tuổi như Cao Đàm, Nguyễn cao Trí,
Nguyễn
Tường Lân, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh,Trần văn Cẩn,Phạm
Hậu… Sơn
dầu, một chất liệu với nhiều khả năng tạo hình được du nhập vào
nước ta,
và dần mang sắc thái Việt Nam. Sơn mài được khai thác như những
sản vật
mỹ nghệ, được các nghệ sỹ Việt Nam sáng tạo thành tác phẩm nghệ
thuật.
Kỹ thuật hình họa đã mang cho tranh lụa truyền thống một sắc thái mới.
Khắc gỗ
dân gian được truyền thêm phong cách duyên dáng, trau chuốt và hiện
đại.
Những hội nghệ sỹ, những triển lãm ra đời tuy với ý đồ kiểm soát nghệ sỹ
của thực
dân, nhưng cũng góp phần tạo điều kiện gây phong trào sáng tác, môi
trường
trao đổi kiến thức giữa các nghệ sỹ. Kiếntrúc Pháp lúc đầu áp đặt cho
kiến trúc ta, về sau dần mang
phong thái thuộc địa, thích hợp với phong thổ
nước ta,
kiến trúc sư Việt Nam bước đầu làm
quen với phương pháp xây dựng
hiện
đại, với kết cấu bê tông cốt thép, một chất liệu bền chắc, rẻ tiền cho những
công
trình lớn.
Điểm
đáng nói nhất trong giai đoạn này là có lẽ chưa bao giờ đội ngũ
nghệ sỹ
lại đông đảo, có kiến thức khoa học, tính tự do trong sáng tạo (tất nhiên
là tương
đối trong sự hạn chế cương tỏa của thực dân). Nghệ thuật tuy chưa
hẳn là
phát triển nhưng đã thực sự tạo “vật liệu” xây dựng nền nghệ thuật xã hội
chủ
nghĩa sau này. Nhưng không phải vì thế, sự “lột xác”, thoát khỏi tư tưởng tự
ty dân
tộc, cá nhân chủ nghĩa, tìm về với bản chất dân tộc, với tinh thần cộng
đồng là
dễ dàng. Cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta chống thực dân
Pháp, và
sau này là đế quốc Mỹ, thực sự là chất men xúc tác đưa nghệ sỹ Việt
Nam về
với tinh thần tự hào dân tộc, với lý tưởng vì nhân dân cống hiến.
Phần 5:
MỸ THUẬT
SAU KHI DÀNH ĐỘC LẬP, ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT
ĐẤT NƯỚC
VÀ HIỆN NAY.
Giai
đoạn này có thể chia ra thành 3 thời kỳ lớn: thời kì chống Pháp, thời
kỳ xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ và thời kì hiện
nay.
Thời kỳ
chống Pháp
Với tinh
thần phấn khởi, tự hào khi dân tộc dành được độc lập sau 82
năm nô
lệ , nghệ sỹ Việt Nam cùng toàn dân bước vào xây dựng nền nghệ
thuật
của một nước Việt Nam tự do, tiến bộ. Tinh thần ấy được biểu lộ trong
triển
lãm mỹ thuật đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tháng 12 năm
1956.
Nhưng
thực dân Pháp lại cướp nước ta một lần nữa. Nghệ sỹ Việt Nam
yêu nước
lại cùng dân tộc bước vào cuộc kháng chiến vĩ đại. Nhiều người đã
trực
tiếp cầm súng lập công như Nguyễn Cao Thương, nhiều người tiếp tục
sáng
tác, phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, như Lương Xuân Nhị,
Nguyễn
Sáng, Huỳnh Văn Gấm, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tỵ,
Huỳnh
Văn Thuận, Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Luyện, Hoàng Như Tiếp… trong số đó
không ít
người đã hi sinh.
Cuộc
kháng chiến đã đào luyện tư tưởng, thay đổi quan điểm mỹ học cho
giới làm
nghệ thuật. Đảng, Bác và Nhà nước luôn quan tâm, hướng dẫn về tư
tưởng,
tạo điều kiện vật chất để giới nghệ sỹ sáng tác dù điều kiện rất gian khổ.
Vì vậy,
nghệ sỹ yêu nước rất hăng hái, tích cực phục vụ kháng chiến bằng tất
cả tâm
huyết của mình. Ngoài những đóng góp lớn lao trong việc phục vụ kháng
chiến
bằng công tác tuyên truyền, bằng những cuộc triển lãm có cả những tác
phẩm dài
hơi bằng chất liệu khó như sơn mài, sơn dầu, bằng những công trình
kiến trúc bằng vật liệu tre nứa
như hội trường Hội nghị Thống nhật Việt Minh,
họ đã
đưa nghệ thuật vào quần chúng, và còn đào tạo một lớp nghệ sĩ trẻ, bằng
những
xưởng họa, và nhất là trường Mỹ thuật Việt Bắc do Hiệu trưởng Tô Ngọc
Vân lãnh
đạo. Những học viên ấy đã phục vụ kháng chiến ngay từ khi học tâp,
đúng
theo phương châm: “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”
trong
tinh thần “ cách mạng hóa tư tưởng, quấn chúng hóa sinh hoạt” của Bác
Hồ. Sau
này, họ đã cùng những bậc thầy của mình góp phần tạo nền móng cho
nền nghệ
thuật tạo hình Việt Nam hiện đại.
Thời kỳ
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ
Sau khi
ra khỏi cuộc kháng chiến gian khổ, nghệ thuật tạo hình Việt Nam
lại cùng
dân tộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giải phóng đất nước,
thống
nhất đất nước.
Những
cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc ở miền Bắc ngay từ năm 1945
đã thực
sự là cuộc biểu dương lực lượng của giới nghệ sỹ tạo hình trong công
cuộc
phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc. Qua chúng, người ta có thể dễ dàng
thấy sự
lớn mạnh của phong trào làm nghệ thuật. Số lượng tác giả ngày càng
nhiều,
đề tài ngày càng phong phú, kỹ thuật, chất liệu ngày càng được nâng
cao.
Điều đó có được là do của Đảng, Nhà nước ý thức rất rõ vai trò của nghệ
thuật
với đời sống tinh thần của nhân dân, với cách mạng. Điều đó được thể
hiện
bằng sự quan tâm bằng tinh thần và vật chất với nghệ thuật. Hơn nữa,
thông
qua công cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, giới nghệ sỹ
ngày
càng thấm nhuần tư tưởng cách mạng, nâng cao lòng yêu nước, ngày
càng
được đào tạo có bài bản hơn. Trường Mỹ thuật Tạo hình Việt Nam,
Trường Kiến trúc Việt Nam, Trường Mỹ thuật
Công nghiệp Việt Nam đã đào
luyện
những nghệ sỹ thế hệ mới, đã trở thành “pháo đài nghệ thuật” của nền
nghệ
thuật nước nhà.
Những
tác phẩm hội họa nổi tiếng như Bình minh trên nông trang của
Nguyễn
Đức Nùng, Tát nước đồng chiêm của Trần Văn Cẩn, Thôn Vĩnh Mốc
(Huỳnh
Văn Thuận), Tổ đối công (Hoàng Tích Chù)…, nhiều tượng đài được
dựng lên
để ca ngợi chiến công của nhân dân ta, cổ vũ tinh thần hăng hái lao
động của
nhân dân như tượng Nam Ngạn, tượng Dân quân Quỳnh Côi , …
nhiều
tượng “trong nhà” của Nguyễn Hải, Lê Công Thành, Mô Lô Cai, Đinh Rú,
Nguyễn
Thị Kim… đã thực sự làm vinh dự cho nền nghệ thuật tạo hình Việt
Nam,
được giới nghệ sỹ trong và ngoài nước đánh giá cao. Những tác phẩm
càng về
sau càng có vẻ khỏe khoắn hơn, các chất liệu được tìm tòi phong phú
hơn, đề
tài ngày càng sâu sát với thực tế hơn. (tất nhiên nói như vậy không có
nghĩa là
chất lượng nghệ thuật cao hơn , vì việc nâng cao chất lượng đòi hỏi rất
nhiều
yếu tố).
Kiến trúc của ta đã thực sự tạo nên
một bộ mặt môi trường sinh hoạt của
đất nước
ta trong thời kỳ xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa. Rất nhiều công
trình
được xây lên phục vụ cho kinh tế, xã hội. Nhưng với tốc độ phát triển quá
nhanh,
lại xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu, không có nhiều công trình lớn,
vốn
liếng eo hẹp, kiến trúc nước ta chưa
có nhiều công trình đẹp, đậm phong
cách
Việt nam.
Không
phải không có những biểu hiện èo uột, thậm chí phản động trong
nghệ
thuật. Nhưng với bản lĩnh chính trị vững vàng, với phẩm chất nghệ sỹ cao,
giới
nghệ sỹ yêu nước đã đấu tranh quyết liệt, bảo vệ cho sự trong sáng của
nền nghệ
thuật dân tộc.
Nghệ
thuật tạo hình ở miền Nam trong vùng tạm chiếm nhìn chung trở
nên yếu
ớt, lai căng do chế độ nô dịch về chính trị và văn hóa của Mỹ và tay
sai. Những
trào lưu sống như Hiện sinh, Híp py, Hư vô chủ nghĩa, những phong
cách
nghệ thuật “mới” được đưa vào một cách ồ ạt. Và nó tỏ ra thích hợp với
những
tâm hồn trốn tránh thực tế. Một số họa sĩ bị sa vào “ đám mây mù tư tưởng”
đó. Họ trốn tránh hiện thực, thậm chí trốn tránh cả cơ bản tạo hình bằng
luận
thuyết: “ tâm hồn của nghệ sỹ là tất cả, anh ta đứng trên tất cả”. Kết quả là
một số
lượng tranh lớn không có chất lượng cao, những tượng đài không thể
làm vinh
dự cho bất cứ điêu khắc gia nào được làm nên trong thời gian này. Tất
nhiên
không thể thiếu được những tâm hồn có tâm huyết, những họa sỹ thực sự
có tay
nghề, tuy nhiên số này không đủ nhiều để tạo nên bộ mặt nghệ thuật tạo
hình
sáng sủa hơn.
Trong
khi đó, kiến trúc thị thành miền Nam
có những bước tiến đáng kể.
Tiếp thu
khoa học hiện đại, vốn đầu tư thích đáng, những villa, những building,
những
chùa chiền đẹp được xây dựng. Tất nhiên đấy là nói về trình độ xây dựng
chứ
không thể nói môi trường kiến trúc
trong đời sống. Bởi chúng không che lấp
nổi
những kiểu kiến trúc lai căng, khu
nhà ổ chuột trên kinh Thị Nghè, rạch Bến
Nghé… và
những đường phố vắng bóng cây xanh.
Trong
vùng Giải phóng, những nghệ sỹ từng tham gia kháng chiến chống
Pháp như
Lê Hồng Hải, Huỳnh Phương Đông, Lê Lam, … cùng những họa sỹ
yêu nước
rời vùng tạm chiếm tham gia kháng chiến như Cổ Tấn Long Châu,
Trang
Phượng, Nguyễn Văn Kính…lại tiếp tục truyền thống kháng chiến của mỹ
thuật
Việt Nam thời chống Pháp. Họ lại lăn lộn trong gian khổ để cổ vũ cuộc
chiến
đấu của nhân dân. Cũng thành lập trường Mỹ thuật Giải phóng để tạo
những
hạt giống cho Mỹ thuật sau này. Những tác phẩm của họ tuy không đồ
sộ về
khuôn khổ, đơn giản về chất liệu nhưng nêu bật được không khí sôi sục
cuộc
kháng chiến với đầy chất hiện thực, tính anh hùng ca. Chúng được giới
nghệ sỹ
và nhân dân miền Bắc trân trọng, khâm phục không chỉ vì tinh thần
dũng cảm
của những nghệ sỹ làm việc đối mặt với cái chết và gian khổ, mà
bằng cả
trình độ nghệ thuật khá cao.
Ơ ngoài
nước, những nghệ sỹ như Lê Bá Đảng, Điềm Phùng Thị cũng
ghi dấu
ấn của văn hóa Việt Nam ở nước ngoài bằng phong cách độc đáo với
truyền
thống dân tộc lâu đời.
Giai
đoạn hiện nay.
Sau khi
Việt Nam thống nhất, đất nước ta bước vào giai đoạn khôi phục
đất nước
bị chiến tranh tàn phá và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn đất
nước.
Nhiều thuận lợi cho phát triển nghệ thuật, và không ít những khó khăn.
Giao lưu
giữa hai vùng tạo nên sự bổ sung cho những khiếm khuyết giữa các
nền nghệ
thuật khác nhau. Lòng tự hào sau những cuộc kháng chiến lâu dài,
chiến
thắng những kẻ thù to lớn thúc đẩy nghệ sỹ lao tới tìm tòi sáng tạo cho
tương
xứng với tầm vóc của dân tộc, điều kiện sống tương đối được cải thiện
làm môi
trường thưởng thức nghệ thuật mở rộng, cho nghệ sỹ một khối lượng
khán giả
lớn, thúc đẩy lòng hăng say sáng tạo của nghệ sỹ. Thông tin với nghệ
thuật
thế giới cũng được mở rộng, khả năng tiếp thu văn hóa thế giới được nâng
cao. Sự
chăm lo của Đảng, Chính phủ với nghệ thuật về tư tưởng, vật chất tạo
môi
trường sáng tác nghệ thuật.
Tuy vậy,
sự giao lưu với nước ngoài cũng phần nào làm hoang mang
những
nghệ sỹ thiếu bản lĩnh. Thêm vào đó, trong một thời gian dài nền kinh tế
tụt hậu
đi vào khủng hoảng, làm mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà
nước,
làm khó khăn cho việc phát triển nghệ thuật trên cơ sở lòng tin của nghệ
sỹ vào
chính thể, vào cách mạng, làm tăng thêm sự hướng ngoại, dễ dàng tiếp
thu
không chọn lọc những khuynh hướng nước ngoài, kể cả những khuynh
hướng
không thích hợp.
Điều đó
dẫn tới phong trào sáng tác mở rộng , các triển lãm liên tục được
mở ra.
Tất nhiên trong giai đoạn đầu ồ ạt, chất lượng nghệ thuật không cao.
Nhưng
cùng với thời gian, những khuynh hướng được chắt lọc, các giá trị được
định
hình phần nào, và chất lượng nghệ thuật cũng dần được nâng cao. Nhiều
nghệ sỹ
trở nên nổi tiếng trong và ngoài nước. Cùng với việc cải tổ về kinh tế,
xã hội
làm ổn định đời sống, khôi phục lại niềm tin của nghệ sỹ với cuộc sống
xã hội.
Chúng ta có quyền hi vọng nghệ thuật trở nên phát triển, tương xứng với
tầm vóc
của dân tộc.
Phần 6:
MỘT SỐ
NỀN NGHỆ THUẬT CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
Đất nước
ta có rất nhiều dân tộc. Trong đó có những dân tộc có những
dân tộc
có nền nghệ thuật độc đáo và đã từng phát triển rực rỡ. Điểm giống
nhau của
các dân tộc trên núi cao là loại kiến
trúc nhà sàn. Với những dân tộc
núi cao
phía Bắc nhà cửa thường khang trang hơn vì cuộc sống của họ tương
đối định
cư hơn, trong khi đó đời sống du cư ở các dân tộc phía Nam tạo cho
kiến trúc nhà sàn của họ thường đơn
sơ hơn, trừ nhà Rông, nơi tập trung dân
làng
trong sinh hoạt cộng đồng. Nơi đây thường được được trang trí rất đẹp,
mang
nhiều bản sắc của từng dân tộc. Trang trí, và điêu khắc của các dân tộc
này rất
đặc sắc. Những tượng đầu cầu thang, tượng nhà mồ người Tây Nguyên,
những
vật dụng được trang trí của người Mường, tranh thờ, thổ cẩm… của các
dân tộc
phía Bắc đều là những vật phẩm đẹp, độc đáo, mang bản sắc dân tộc
của từng
vùng, từng dân tộc.
Đặc
biệt, nghệ thuật Chàm, một nền nghệ thuật bản địa có từ lâu đời,
ảnh
hưởng đậm nét văn hóa An Độ, Khơ Me làm nên sắc thái độc đáo thực sự.
Trong
khi kiến trúc của dân tộc Kinh có xu
hướng tỏa ra, trải rộng trong không
gian thì
kiến trúc Chàm có xu hướng vươn lên
khống chế chiều cao. Thường
nằm trên
những núi đồi miền Trung, những chiếc tháp Chàm vươn lên như
những
tượng đài, với màu đỏ của đất Bazan, những họa tiết trang trí tinh vi,
những
tầng tháp dày phía trên tương phản với phần thân thẳng đứng phía dưới.
Tượng
tròn Chàm tuy theo tín ngưỡng ấn Độ nhưng rất hiện thực, tròn đầy, tạo
nên cảm
giác duyên dáng tràn sức sống gần gũi với người xem.
Kiến trúc Khơ Me ở Nam Bộ rất gần
với kiến trúc Cam Pu Chia, nhưng
thô sơ
hơn và không có nhiều công trình to lớn bằng.
Phần
cuối:
KẾT
LUẬN.
Lướt qua
lịch sử mỹ thuật Việt Nam từ thời tiền sử tới nay, ta thấy nền
nghệ
thuật tạo hình nước nhà nằm trong một nền văn hóa bản địa, có truyền
thống,
xuyên suốt theo dòng lịch sử trong một dòng chảy thống nhất. Có thịnh,
lúc suy,
nhưng không khi nào nghệ thuật Việt Nam mất đi bản sắc dân tộc của
mình, kể
cả trong những giai đoạn thử thách lớn lao nhất, thậm chí với âm mưu
đồng hóa
của nước ngoài. Cùng với bản sắc dân tộc đó, người Việt tồn tại, trở
thành
một giống nòi không thể khuất phục. Trong khi đó trên thế giới, không ít
những
dân tộc bị đồng hóa, bị mất đi vĩnh viễn với những trở ngại nhỏ hơn
nhiều
lần so với những trở ngại mà dân tộc ta phải đối mặt. Có thể thấy bản sắc
dân tộc
là cội nguồn cho sự tồn tại của một quốc gia, một giống nòi.
Những
giai đoạn như văn hóa Đông Sơn, thời đại Lý Trần Hồ, hậu Lê là
những
lúc nền nghệ thuật phát triển, đậm đà bản sắc dân tộc nhất. Sự tồn tại,
phát
triển mạnh mẽ đó cũng tương hợp với những giai đoạn của nền độc lập
được
khẳng định lâu dài, tinh thần tự tôn dân tộc lên cao, nền kinh tế phát triển.
Và nghệ
thuật, đến luợt nó góp phần vào sự tồn tại và phát triển chung của dân
tộc.
Những lúc bị nô dịch, những vương triều tự ty với truyền thống, văn hóa
Việt Nam
dù không mất đi, vẫn âm ỷ trong lòng người Việt Nam yêu nước, thì
vẫn
không thể nào phát triển được. Điều đó cho ta thấy điều kiện cho một nền
văn hóa
chính ở lòng tự hào dân tộc. Một khi chúng ta đủ bản lĩnh, tự hào với
truyền
thống của mình, thì dù có thế lực bên ngoài lớn mạnh đến đâu, chúng ta
cũng có
thể đương đầu và vượt lên. Và biểu hiện của một nền văn hóa chính là
nghệ
thuật của nó. Một đất nước có nền nghệ thuật độc đáo, thấm sâu vào mọi
tầng lớp
nhân dân, trở thành máu thịt của nó thì đất nước đó trở thành bất diệt.
Văn hóa
là cách con người ứng xử với xung quanh, nó thay đổi theo thời
gian và
không gian. Nó không nằm trong biểu hiện cụ thể nào mà là tổng hòa
của các
biểu hiện bên ngoài, phù hợp với điều kiện lịch sử. Vì vậy, nghệ thuật
cũng tất
yếu thay đổi cho phù hợp với xung quanh. Nhưng điều kiện để nó
không bị
hòa tan mà là sự góp phần đắc lực vào cái chung, đồng thời tiếp thu
những
tinh hoa của cái chung làm giàu cho chính mình, là lòng tự hào dân tộc,
lòng yêu
dân tộc mình. Vì vậy, trong lịch sử hội họa Việt Nam, chúng ta đã biến
sơn dầu
(một chất liệu ngoại lai) thành chất liệu thể hiện tình cảm, tâm hồn
Việt
Nam…
Hiện
nay, toàn cầu hóa trên thế giới là một tất yếu lịch sử. Nó làm cho
các dân
tộc xích lại gần nhau, góp tiếng nói chung, thúc đẩy sự phát triển của
nhân
loại. Nhưng nó cũng chứa đựng nguy cơ thôn tính lẫn nhau, mạnh được
yếu
thua. Những nền văn hóa không có bản lĩnh có nguy cơ bị hòa tan vào dòng
xoáy đó.
Việc gìn giữ, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc là cần thiết và cấp
bách.
Tìm hiểu lịch sử văn hóa dân tộc, học hỏi ông cha, tìm ra nét tinh tuý, gạn
lọc
những điều lỗi thời là việc làm của nghệ sỹ, những đại diện cho một nền văn hóa.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét